ĐỒNG HỒ

HÔM NAY LÀ NGÀY...

Tài nguyên dạy học

DANH NGÔN

Ảnh ngẫu nhiên

11301.jpg Me_Suoi_nguon_yeu_thuong.swf JINGLE_BELLS_with_lyrics.flv 4ce0f1f7_75adae8d_2011_resize1.jpg Tuyet_roi.mp3 Tuyen_ngon_doc_lap_Ho_Chi_Minh.mp3 Nho_rung_TLu.mp3 Chieu_hom_nho_nha_BHTQ.mp3 HAPPYNEWYEAR.swf Flash_thiep_Noel1.swf Bai_ca_nguoi_phu_trach.swf 4554771044.jpg DocdiencamChiecluocnga.mp3 DocdiencamLang.mp3 DocdiencamBenque.mp3 Phim_minh_hoa__Cau_Long_Bien_chung_nhan_lich_su.flv Phim_minh_hoa_Thach_Sanh.flv 0.Bac_Ho_doc_Loi_keu_goi_toan_quoc_chong_Mi.flv

ĐIỂM TIN

CẢNH ĐẸP VIỆT NAM

Điều tra ý kiến

Bạn quan tâm nhất điều gì trong cuộc sống?
Tiền tài
Danh vọng
Sức khoẻ
Tình yêu
Không phải các điều trên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Về đầu trang

    Click vào bông hoa để về đầu trang

    Ai đã onlline?

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Gốc > Chân dung các Nhà văn, Nhà thơ >

    Hàn Mặc Tử (1912 - 1940)

     

    Tiểu sử
    • Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí sinh ngày 22 tháng 9 năm 1912 tại Lệ Mỹ, Đồng Hới.
    • Thuở nhỏ ông học trung học ở Huế (1928-1930), làm viên chức sở đạc điền ở Quy Nhơn (1932-1933), vào Sài Gòn làm báo rồi lại trở về Quy Nhơn (1934-1935).
    • Ông mắc bệnh phong từ năm 1937, phải vào nhà thương Quy Hòa tháng 9 năm 1940, và rồi mất ở đấy ngày 11 tháng 11 năm 1940.
    • Hàn Mặc Tử bắt đầu làm thơ rất sớm với thể thơ Đường luật và bút danh Minh Duệ thị, Phong Trần; nổi tiếng vì được cụ Phan Bội Châu họa thơ và đề cao. Từ năm 1935 ông đổi bút hiệu thành Lệ Thanh, rồi Hàn Mạc Tử, và cuối cùng Hàn Mặc Tử.
    • Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Gái Quê (1936, tập thơ duy nhất được xuất bản trong sinh thời tác giả), Thơ Điên (hay Đau Thương), Thượng Thanh Khí, Cẩm Châu Duyên, Chơi Giữa Mùa Trăng...
    Hàn Mặc Tử đem đến cho Thơ Mới một phong cách độc đáo và sáng tạo: bên cạnh những tác phẩm bình dị, trong trẻo, chan chứa tình quê là các tác phẩm đầy những cảm hứng lạ lùng, huyền bí, thậm chí đến điên loạn, phản ảnh trực tiếp các cơn bệnh đau đớn dày vò.

    Nguyễn Trọng Trí đăng thơ trên báo Phụ Nữ Tân Văn, với bút hiệu Phong Trần. Khủng hoảng kinh tế tại Đông Dương kéo theo sự sa sút của gia đình ông không còn điều kiện tiếp tục học. Nguyễn Trọng Trí phải nghỉ học đi làm cho Sở Đạc Điền, sau đó ông bị bệnh rồi mất việc. Vào Sài Gòn làm báo lấy bút hiệu Lệ Thanh (tên làng Mỹ Lệ, Tân Thanh ghép lại) ông đã đoạt giải nhất cuộc thi thơ của một câu lạc bộ thơ, bút hiệu Lệ Thanh nổi tiếng từ đó.

    Năm 1936 ông mới đổi bút hiệu là Hàn Mạc Tử. Hàn Mạc theo Hán tự có nghĩa là "Rèm Lạnh". Người bạn thân cận nhất của ông là thi sĩ Quách Tấn góp ý:
    "Tránh kiếp "Phong Trần" làm khách "Hồng Nhan" (Lệ Thanh) mà lại núp sau "Rèm Lạnh" (Hàn Mạc)... Đã có "Rèm Lạnh" thì nên có thêm một bóng nguyệt nữa mới thật nên thơ." Thế là Trọng Trí đồng ý ngay, cầm bút vạch thêm một vành trăng non trên chữ Mạc, từ đó có bút hiệu Hàn Mặc Tử. Mặc Tử không còn nghĩa "Rèm Lạnh" nữa, mà có nghĩa là "Bút Mực" (Hàn: Bút, Mặc: Mực) hiểu theo nghĩa bóng là "Văn Chương". Như vậy, ba chữ bút hiệu Hàn Mặc Tử có nghĩa là người "Khách Văn Chương". Từ đó Hàn Mạc Tử hay Hàn Mặc Tử vẫn là ông.

    Lớn lên tại đất Qui Nhơn, thi nhân đem lòng thương yêu một giai nhân tên Hoàng Thị Cúc, và đây là mối tình đầu tiên, đẹp đẽ vì là tình yêu một chiều, nhiều mộng mơ đã cho ông có những “ bản tình ca lãng mạn “ để lại trong thi ca của ông nhiều nhung nhớ, khổ lụy tình si :

    "Trước sân anh thơ thẩn
    Đăm đăm trông nhạn về
    Mây chiều còn phiêu bạt
    Lang thang trên đồi quê"

    Hay:

    "Em ơi ngờ đâu trong những đêm
    Trăng ngà giãi bóng mặt hồ êm
    Anh đi thơ thẩn như ngây dại !
    Hứng lấy hương nồng trong áo em"

    Là một trong năm thi nhân nổi bật nhất thời bấy giờ tại đất Qui Nhơn gồm: Quách Tấn, Hàn Mạc Tử, Bích Khê, Chế Lan Viên và Yến Lan. Trong tình bạn thân thắm thiết, Bích Khê, giới thiệu cho Hàn Mạc Tử cô cháu kêu mình bằng cậu là Phạm Thị Nghệ - một thiếu nữ có nhan sắc xinh đẹp mà sau này hai người thân thiện và yêu thương nhau. Hàn Mạc Tử thi vị hóa đặt tên người yêu thành "Mộng Cầm".
    Chính Mộng Cầm tạo nên nguồn cảm xúc, trong hồn thơ Hàn Mạc Tử lúc say sưa khi yêu đương say đắm, rồi buồn khổ, sầu vơi và cả nỗi lòng bao xót xa, ngậm ngùi:

    "Ngày mai tôi bỏ làm thi sĩ
    Em lấy chồng rồi hết ước mơ
    Tôi sẽ đi tìm mỏm đá trắng
    Ngồi lên để thả cái hồn thơ."

    Tình đắng cay, đau thương , éo le, trắc trở :

    "Hôm nay có một nửa trăng thôi,
    Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi !
    Ta nhớ mình xa thương đứt ruột!
    Gió làm nên tội buổi chia phôi !"

    Khổ sở đến thiểu não với lời thơ than thân trách phận :

    "Trời hỡi, bao giờ tôi chết đi?
    Bao giờ tôi hết được yêu vì,
    Bao giờ mặt nhật tan thành máu
    Và khối lòng tôi cứng tợ sỉ"

    Những năm 1938 - 1939, thi sĩ đau đớn dữ dội bởi bệnh tật, nhưng trước mặt bạn bè, chàng cố kìm nén. Chàng chỉ gào thét trong thơ:

    "Trời hỡi! bao giờ tôi chết đi
    Bao giờ tôi hết được yêu vì
    Bao giờ mặt nhật tan thành máu
    Và khối lòng tôi cứng tựa si".

    Lúc này, sau một thời gian chữa chạy bằng đông y, chẳng những căn bệnh phong cùi không thuyên giảm chút nào mà ngược lại còn làm thân thể Hàn Mạc Tử ngày một tiều tụy đi vì những tác dụng phụ của thuốc. Mặt khác, thông tin về việc Hàn Mạc Tử bị mắc bệnh phong đã đến tai chính quyền địa phương. Do đó, Hàn Mạc Tử phải liên tục thay đổi chỗ ở để tránh sự truy đuổi gắt gao của Sở Vệ sinh công cộng thành phố Quy Nhơn. Cuối cùng, gia đình tìm thuê cho Hàn Mạc Tử được một nơi ở khá kín đáo trong khu lao động nghèo nằm bên cồn cát trắng ven biển. Đó là một túp lều tranh mà theo Hoài Thanh kể là rách nát đến độ phải lấy giấy báo và bao thư che những chỗ dột trên mái nhà.

    Trong thời kỳ bệnh tật, Hàn Mạc Tử sáng tác được ba tập thơ là Thơ điên, Xuân như ý và Thượng thanh khí. Nhưng có điều đặc biệt là, những câu thơ cứ tiến dần đến chỗ rối rắm khó hiểu theo tiến triển bệnh tật. Nhiều câu thơ đọc lên nghe rất hay nhưng hầu như không ai hiểu nhà thơ muốn nói gì.
    Tuy nhiên, điều lạ lùng là dù rối rắm khó hiểu như thế nhưng thơ Hàn Mạc Tử được người đời chuyền tay nhau đọc thuộc lòng, đọc như đọc kinh, không hiểu gì cũng đọc thuộc làu làu. Như thể thơ có ma lực.
    Hoài Thanh cũng xác nhận điều lạ lùng này: "Trong ý họ, thi ca Việt Nam chỉ có Hàn Mặc Tử. Bao nhiêu thơ Hàn Mặc Tử làm ra họ đều chép lại và thuộc hết. Mà thuộc hết thơ Hàn Mặc Tử đâu phải chuyện dễ. Đã khúc mắc mà lại nhiều: tất cả đến sáu, bảy tập. Họ thuộc hết và chọn những lúc đêm khuya thanh vắng họ sẽ cao giọng, ngâm một mình. Bài thơ đã biến thành bài kinh và người thơ đã trở nên một vị giáo chủ".
    Thơ của Hàn Mạc Tử không chỉ làm thích thú những cô cậu học sinh trung học vốn mơ mộng mà còn lan tỏa ra nhiều giới khác. Và thật đáng ngạc nhiên, nó còn lay động đến cả giới tu hành. Có một nữ tu trẻ đẹp chừng mười bảy mười tám tuổi ở ngôi chùa Liên Tôn gần đó, vì ái mộ thơ Tử nên đã không ngần ngại căn bệnh phong cùi gớm ghiếc, ghé vào căn chòi để thăm chàng. Về sau chàng đã đưa ni cô vào trong thơ của mình với những tình cảm khá đặc biệt.

    Một điều nữa, không những "ma lực" có ở trong lời thơ Hàn Mạc Tử mà còn nằm trong chính con người thi sĩ. Yến Lan kể: "Nếu ai đã có lần nghe anh ngâm thơ thì mới cảm thấy hết cái cảm giác kỳ lạ lần đầu bắt gặp: nôn nao, nôn nao. Và cộng với lời thơ, gây nên một không khí mông lung. Chúng tôi như bị dồn vào thế giới nào có suối, có đồi, có bóng dáng những cuộc hành hương, và nhạc điệu cung văn, đồng bóng".
    Hàn Mặc Tử đã đắm mình trong cái không gian vừa đau thương vừa bay bổng đó để làm ra những vần thơ khiến người đời say đắm cho đến lúc chàng phải bước chân vào trại phong Quy Hòa ngày 20/9/1940.
    Người thiếu nữ Mai Đình con gia đình quyền quý, khá giả đã cãi lời cha mẹ đem lòng yêu những bài thơ tình Hàn Mạc Tử, yêu tâm hồn thi nhân rồi quyết một lòng yêu người thi sĩ mắc bệnh nan y phong cùi. Mai Đình - Người con gái nhân hậu đã xin được làm vợ để săn sóc, Hàn Mạc Tử mặc dù ông từ chối, nàng vẫn ở bên cạnh lo thuốc thang...

    "Em đã yêu anh đến dại người
    Lòng em ngày tháng dễ nào nguôi
    Yêu anh trên hết tình yêu mến
    Và sẽ yêu anh suốt một đời"

    Nàng không hề gớm chứng bệnh nan y của chàng, mà con tình nguyện chăm sóc người yêu. Trên đời dễ mấy ai bao dung như vậy nhỉ ?:

    "Yêu anh trong lúc anh lâm chung
    Mới thấy tình em yêu lạ lùng
    Rải khắp bầu trời kia chưa lấp
    Mong anh lành mạnh mới đáng công"

    Hàn Mạc Tử cũng rất yêu Mai Đình trong thơ văn của ông Mai Đình là tất cả :

    "Mai của anh, chiều phong vận xinh xinh.
    Say một nửa và thơm một nửa.
    ...
    Đây Mai Đình, tiên nữ ở Vu Sơn
    Đem mộng xuống gieo vào muôn sóng mắt,
    Nàng! Ôm nàng ! Hai tay ta ghì chặt
    Cả bài thơ êm mát lạ lùng thay!
    Ta là người uống muôn hận sầu cay
    Nàng là mật của muôn tuần trăng mật"

    Bằng cả những nỗi khát khao gần gũi và của nhục dục ham muốn yêu đương thể xác:

    "Mai! Mai! Mai! Là Nguyệt Nga tái thế.
    Tình rất nặng và nghĩa đầy lượng bể,
    Tôi ôm nàng, muốn cắn chết nàng đi!
    Bao não nùng sầu hận trong mê ly
    Anh thấy rõ rằng anh đang trơ trọi.
    Em xa quá, biết làm sao nhắn với ?
    Anh đưa lòng cho tới huyệt lòng em!
    Mai! Ôi Mai, là em vẫn còn nguyên,
    Hay đã chết như tình anh đã chết ?"

    Khi bị cơn ác mộng của căn bệnh nan y bám trên người mình, Hàn Mạc Tử từ chối không gặp Mai Đình vì tủi cho thân phận ghê gớm của mình :

    "Tôi thích nép người bên cánh cửa
    Hé nhìn dáng điệu của người yêu
    Bước đi ngượng nghịu trên đường cái
    Mỗi lúc ngang qua trước mặt lều"

    Một giai nhân khả ái khác mà Hàn Mạc Tử đem lòng yêu thương mang tên ngộ nghĩnh, tên thật dễ mến là "Thương Thương". Thương Thương chỉ là cái bóng bé nhỏ dịu dàng từ xa xôi mà Hàn Mạc Tử chưa dịp diện kiến,
    Do mối tình ảo mộng với nàng Thương Thương đã khiến cho Hàn Mạc Tử sáng tác ra hai vở kịch bằng thơ này nữa. Đó là "Duyên Kỳ Ngộ" và "Quần Tiên Hội". "Duyên Kỳ Ngộ" nói về là một thiên đường tình ái trong mơ, Hàn Mạc Tử vẽ một bức tranh thuỷ mạc tuyệt mỹ yêu thương với nàng Thương Thương chỉ có trong ước mơ của thi sĩ

    Trong đời người , ai đã va chạm một lần với cái chết khủng khiếp, trong mê cuồng và thét gọi điên đảo bấu víu vào đời sống này một cách vừa bi thảm vừa run sợ. Ít nhất là như thế... mới cảm thông với một người trải nhiều ác mộng, luôn thấy bàn tay lông lá của tử thần vương đến chụp xuống đầu cổ, vò bóp xương da. Cuộc chiến đấu bất lực của con người với định mệnh ác nghiệt, cuộc chiến giữa thể xác tanh hôi ghì kéo linh hồn chìm ngập trong đó, và ý chí thì bay vượt lên, điểm linh hồn với cõi trú ngụ mông lung mù mịt của thế giới trăng sao huyền hoặc của thơ Hàn Mạc Tử.

    Thơ Hàn Mặc Tử không nên đọc trong lúc bình tĩnh vì nó sẽ dẫn ta vào chơi vơi hoang đảo, hít làn tinh khí trăng sao, của hoa trái thanh tân, nhìn thấy ngất trời tinh đẩu, với nỗi đau đớn lạ thường, cảm giác lạnh tê. bởi vì thơ người quá ư tràn trề ánh sáng ma quái, nhưng lúc tắm trong vùng ánh sáng nọ, thoắt nó lại biến mất... lúc ta ngỡ thơ chàng là ánh sáng thái dương thì thơ chàng lại là vầng trăng thiên cổ...

    Ai mua trăng, tôi bán trăng cho
    Trăng nằm yên trên cành liễu đợi chờ
    Ai mua trăng, tôi bán trăng cho
    Chẳng bán tình duyên ước hẹn hò"

    "Đường lên dốc đá nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa
    Lầu ông Hoàng đó thuở nào trăng
    Hàn Mặc Tử đã qua
    Ánh trăng treo nghiêng nghiêng, bờ cát dài thêm hoang vắng
    Tiếng chim kêu đau thương, như nức nở dưới trời sương
    Lá rơi rơi đâu đây sao cứ ngỡ bước chân người tìm về giữa đêm buồn
    Đường lên dốc đá nhớ xưa hai người đã một lần đến
    Tình yêu vừa chớm xót thương cho chàng cuộc sống phế nhân
    Tiếc thay cho thân trai, một nửa đời chưa qua hết
    Trách thay cho tơ duyên chưa thắm nồng đã vội tan
    Hồn ngất ngây điên cuồng cho trời đất cũng tang thương, mà khổ đau niềm riêng.
    Hàn Mặc Tử xuôi về quê cũ, dấu thân nơi nhà hoang
    Mộng Cầm hỡi thôi đừng thương tiếc, tủi cho nhau mà thôi
    Tình đã lỡ xin một câu hứa, kiếp sau ta trọn đôi
    Còn gì nữa thân tàn xin để một mình mình đơn côi.
    Tìm vào cô đơn đất Quy Nhơn gầy đón chân chàng đến
    Người xưa nào bíêt, chốn xưa ngập đường pháo cưới kết hoa
    Chốn hoang liêu tiêu sơ Hàn âm thầm ôm trăng vỡ
    Khóc thương thân bơ vơ, cho đến một buôỉ chiều kia
    Trơì đất như điên cuồng khi hồn phách vút lên cao
    Mặc Tử nay còn đâu ?

    Trăng vàng ngọc, trăng ân tình chưa phỉ
    Ta nhìn trăng, khôn xiết ngậm ngùi chăng..."

    Đó là bài ca về thi nhân Hàn Mạc Tử. Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã giúp nhiều độc giả hiểu rõ thêm những áng thơ bất hủ và chuyện tình thương tâm của nhà thơ – Một nhà thơ tài năng và bất hạnh.

    Tác phẩm chọn lọc
    - Bẽn Lẽn
    - Mùa Xuân Chín
    - Đây thôn Vĩ Giạ
    - Thánh nữ đồng trinh Maria
    - Đà Lạt Trăng Mờ
    - Huyền ảo
    - Tình Quê
    - Một Miệng Trăng
    - Cô Liêu
    - Uống Trăng
    - Trường Tương Tư
    - Lang Thang
    - Đêm Không Ngủ
    - Em Nhớ Mình Xa
    - Cuối Thu
    - Rướm Máu
    - Hồn Là Ai
    Tài liệu tham khảo

    - Gái Quê, Chơi Giữa Mùa Trăng, Đau Thương, Xuân Như ý, Hàn Mặc Tử, NXB Hội Nhà Văn tái bản, Hà Nội, 1995.
    - Tuyển tập Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên tuyển chọn và giới thiệu, NXB Văn Học, Hà Nội, 1987.
    - Tổng Tập Văn Học Việt Nam, tập 27, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1990.
    - Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh & Hoài Chân.
    - Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến, Nguyễn Tấn Long & Nguyễn Hữu Trọng.
    - Thi Ca Việt Nam Hiện Đại, Trần Tuấn Kiệt.
    - Tuyển Tập Thơ Tiền Chiến, Hoài Việt biên soạn.
    - Thơ Mới -- Những Bước Thăng Trầm, Lê Đình Kỵ.
    - Khuynh hướng Thi Ca Tiền Chiến, Nguyễn Tấn Long & Phan Canh.


    Nhắn tin cho tác giả
    Ngô Văn Lý @ 18:52 05/10/2009
    Số lượt xem: 1198
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến